Vì sao ăn rau bị ngộ độc?

Author:
Category:
- Advertisement -

Vì sao ăn rau bị ngộ độc? Để có đủ lượng rau cung cấp, cần tăng sản lượng rau trồng và phát triển các vùng trồng rau chuyên canh. Nhiều người trồng rau đã ứng dụng ồ ạt thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về nông hóa thổ nhưỡng, công nghệ sinh học và hóa chất làm ảnh hưởng đến chất lượng các sản phẩm rau một cách nghiêm trọng. Sự ô nhiễm này đã ảnh hưởng tới sức khỏe và tâm lý người tiêu dùng. Đây là vấn đề rất phức tạp, khó có thể giải quyết ngay một sớm một chiều, cần có sự tuyên truyền giáo dục ý thức, nâng cao hiểu biết về kỹ thuật trồng rau và các nguyên tắc cần tuân thủ đối với người trồng rau và người tiêu dùng… Nguyên nhân gây ngộ độc khi dùng rau có thể rất nhiều, xin ghép lại thành một số vấn đề chính.

Rau bị ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật

Rau là cây trồng trong thời gian ngắn, nhu cầu dinh dưỡng của nó rất cao, đất trồng rau luôn ẩm ướt đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều sâu bệnh phát sinh và phát triển. Người trồng rau muốn có năng suất cao bắt buộc phải phun thuốc trừ sâu bệnh, trừ cỏ dại. Khi phun thuốc tạo thành một lớp màng mỏng trên bề mặt lá, quả, thân, mặt đất, mặt nước và tạo thành một lớp lắng đọng đó là chất dư lượng ban đầu của thuốc.

Theo thống kê của Viện bảo vệ thực vật, hiện nay ở Việt Nam đang dùng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trị bệnh, 160 loại thuốc diệt cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng. Hàng năm lại có nhiều thứ thuốc khác ra đời chưa kể thuốc nhập lậu không qua kiểm soát.

Chủng loại thuốc nhiều, song do thiếu hiểu biết, do thói quen sợ mất mùa nên nhiều nơi vẫn dùng các loại thuốc đã quen thuộc, những loại thuốc này thường là thuốc có độ độc cao đã bị cấm dùng hoặc hạn chế dùng ở các nước khác như DDT, monitor, volfatox… Mặt khác, các loại thuốc này giá thành rẻ, diệt được nhiều chủng loại sâu, hiệu quả lại cao nên người trồng rau vẫn thích dùng.

Do đó mà số người bị ngộ độc do ăn rau ngày càng cao, theo thống kê của Bộ Y tế, năm 1997 có 585 vụ ngộ độc với 6421 người, đã làm chết 46 người trong số đó có 6103 người ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật do ăn rau và tự tử bằng thuốc trừ sâu. So với năm 1996 có 50 vụ với 1341 người bị ngộ độc có 25 người chết…

Gần đây, ở nhiều địa phương những người trồng rau không thực hiện đúng quy định khi phun thuốc như vừa phun thuốc vài ngày đã thu hoạch rau, khi đi phun không đeo khẩu trang, phun ngược gió cũng làm bản thân người trồng rau bị ngộ độc.

Ở những vùng trồng rau chuyên canh như Hà Nội, Đà Lạt hệ số sử dụng ruộng đất cao, thời vụ trồng rải đều quanh năm đã tạo nguồn thức ăn liên tục cho sâu và tạo điều kiện cho bướm ngày di chuyển mạnh từ ruộng sắp thu hoạch sang ruộng mới trồng, do đó phải dùng thuốc trừ sâu thường xuyên. Ví như một vụ bắp cải phải phun 7 – 15 lần với lượng thuốc 4 – 5 kg a.i”/ha trong thời gian 75 – 90 ngày. Người trồng rau cũng không chú ý đến thời gian cách ly an toàn từ khi phun lần cuối đến lúc thu hoạch theo quy định của từng loại thuốc. Nhiều người trồng rau để bán được giá thường thu hoạch sau khi phun 3 ngày, còn rau để gia đình ăn thì không phun thuốc hoặc phun rất ít.

Ghi chú: a.i là hoạt chất gây độc có trong sản phẩm, tạo nên tính chất và công dụng của sản phẩm đó.

Trong việc bảo vệ hạt giống hiện nay người ta vẫn dùng DDT nên mức độ nhiễm thuốc bảo vệ thực vật càng phức tạp. Hậu quả của việc dùng thuốc bừa bãi, không có quản lý nên hằng năm có nhiều người ngộ độc do ăn phải rau có tồn dư. Người bị ngộ độc nặng được đưa đi cấp cứu, còn người ngộ độc nhẹ gia đình tự xử lý ở nhà nên không thể thống kê hết được.

Rau bị ô nhiễm do hàm lượng nitrat quá cao

Theo quy định chung của thế giới thì một loại rau được gọi là rau sạch thì phải có lượng nitrat thấp. Đặc điểm của nitrat (N03) khi vào cơ thể ở mức bình thường không gây độc. Trong hệ tiêu hóa nitrat được khử thành nitric (N02). Nitric là chất chuyển oxyhaemoglobin (chất vận chuyển ôxy trong máu) thành chất không hoạt động được là methaemogllobin. Nếu lượng nitrat vượt mức cho phép, lượng nitrit sẽ nhiều lên và làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển khối u. Trong cơ thể người, lượng nitrat cao có thể gây phản ứng amin thành chất gây ung thư là nitrosamin. Khi N03 vượt quá mức cho phép sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nên các nước nhập khẩu rau đều kiểm tra lượng N03 trước khi cho nhập rau tươi. Tổ chức y tế thế giới WHO và cộng đồng kinh tế châu Âu (EC) giới hạn hàm lượng nitrat trong nước uống là 50 mg/1, hàm lượng trong rau không quá 300 mg/kg rau tươi. Xem bảng Hàm lượng Nitrat (mg|kg sản phẩm theo tiêu chuẩn của WHO).

Hàm lượng Nitra cho phép trong một số loại rau quả theo tiêu chuẩn của WHO
Hàm lượng Nitra cho phép trong một số loại rau quả theo tiêu chuẩn của WHO

Ở nhiều nước tiên tiến như Hoa Kỳ cho rằng hàm lượng nitrat phụ thuộc vào từng loại rau ví dụ măng tây không quá 50mg/kg, cải củ cho phép tới 3600 mg/kg. Ở Nga lại quy định cải bắp dưới 500 mg/kg, cà rốt – 250 mg/kg; dưa chuột – 150 mg/kg… Trong khi đó lượng tồn dư nitrat ở Việt Nam quá cao (Xem bảng Tồn dư NO3 trong các mẫu rau).

Tồn dư NO3 trong các mẫu rau thương phẩm thuộc vùng rau ngoại thành Hà Nội năm 1999 so với tiêu chuẩn quy định
Tồn dư NO3 trong các mẫu rau thương phẩm thuộc vùng rau ngoại thành Hà Nội năm 1999 so với tiêu chuẩn quy định

Do tồn dư kim loại nặng

Việc dùng phân hóa học và chất bảo vệ thực vật đã làm cho lượng N. P. K và hóa chất bị rửa trôi xuống mương, cống vào ao, hồ, sông suối… từ đó thâm nhập vào các mạch nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước. Các kim loại nặng như sắt (Fe), đồng (Cu), kẽm (Zn)…. tiềm ẩn trong đất và thẩm thấu từ nước thải thành phố, các khu công nghiệp chuyển trực tiếp qua nước tưới, được rau hấp thụ (xem bảng 4) đã làm người dùng rau bị nhiễm độc kim loại nặng.

Ngoài ra, việc dùng phân lân bón lót cho rau cũng làm tăng lượng cadin (cd) trong đất, người ta tính cứ trong 1 tấn supe lân có chứa 50 – 170g cd vào trong sản phẩm rau. Ví dụ khu vực nhà máy pin Văn Điển và Nhà máy hóa chất Đức Giang có hàm lượng sunfat tích lũy trong lớp đất mặt vào mùa khô (mùa trồng rau chính) so với khu vực xa nhà máy 15 – 18 lần (xem bảng Thành phần và hàm lượng của một số kim loại nặng trong nước tưới).

Thành phần hàm lượng một số kim loại nặng trong nước tưới cho cây trồng ở hà Nội 1994
Thành phần hàm lượng một số kim loại nặng trong nước tưới cho cây trồng ở hà Nội 1994

Do vi sinh vật gây hại rau

Một số vùng chuyên canh rau có tập quán dùng nước phân tươi tưới cho rau. Đó là một trong những nguyên nhân làm rau bị ô nhiễm. Trong nước phân mang nhiều vi sinh vật gây hại như trứng các loài giun, E. coli, Salmonella là sinh vật ký sinh đường tiêu hóa nên gây thiếu máu. Theo điều tra một số xã trồng rau ở Hà Nội, trồng rau thường xuyên bón phân bắc tươi thấy có tới 53,3% người có triệu chứng thiếu máu, 60% SỐ người bị bệnh ngoài da (xem bảng Ngưỡng giới hạn các kim loại nặng (mg/kg) và vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi).

Ngưỡng giới hạn kim loại nặng và vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi
Ngưỡng giới hạn kim loại nặng và vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi

Như vậy, muốn cho người tiêu dùng không bị ngộ độc các sản phẩm rau phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Sạch, hình thức hấp dẫn: rau phải tươi, sạch bụi, không có tạp chất. Thu hoạch đúng độ chín để có chất lượng cao nhất, rau không có triệu chứng bệnh và bao bì đựng rau phải hấp dẫn.
  • Các sản phẩm của rau không chứa các dư lượng vượt ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn của vệ sinh y tế: dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; dư lượng nitrat; dư lượng kim loại nặng; không có vi sinh vật gây bệnh.

Muốn làm được theo các yêu cầu trên, khâu sản xuất rau sạch phụ thuộc vào đất trồng và kỹ thuật trồng.


Tham khảo: Hướng dẫn trồng rau sạch – Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Huy Điềm

Xem thêm
Bài viết liên quan