Những điều cần biết trong kỹ thuật trồng rau sạch- Kỳ 5: Nguyên tắc sản xuất rau sạch

Author:
Category:
- Advertisement -

Để có vườn rau thu hoạch quanh năm, phải có cơ cấu cây trồng phù hợp giữa cây gốc ôn đới với cây cận nhiệt đới, nhiệt đới, kết hợp việc trồng các loại rau ở cạn với rau ở nước để đối phó với biến động nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè (ở miền Bắc), giữa mùa khô và mùa mưa (ở miền Nam). Bố trí trồng các cây khác họ, giữa cây khác họ nhưng lại có cùng một loại sâu bệnh để tận dụng được nguồn dinh dưỡng của đất, hạn chế sâu bệnh. Cứ sau 1 – 2 năm trồng rau cạn phải luân canh với trồng lúa nước, rau muống để thay đổi điều kiện sinh thái của sâu bệnh nhằm diệt nguồn gốc gây bệnh đồng thời cải tạo và thay đổi chế độ dinh dưỡng trong đất.

Luân canh, xen canh, gối vụ khi trồng rau

Trồng rau luân canh là gì?

Trồng rau luân canh là trồng luân phiên các loại rau theo thời gian trong chu kỳ nhất định trên cùng một mảnh đất. Trồng luân canh nhiều loại rau dùng lúc giáp vụ và nhiều rau ngon lúc chính vụ. Sau đây là một số công thức luân canh cây trồng của các vùng chuyên canh.

  1. Bắp cải (tháng 9 – 12), đậu côve (tháng 12 đến tháng 2 năm sau), su hào (tháng 2 – 4), mướp (tháng 4 – 9).
  2. Su hào (tháng 3 – 6), bắp cải (tháng 12 – 3 năm sau), đậu đũa (tháng 3 – 6), cải (tháng 7 – 9).
  3. Cà chua (tháng 8 – 12), su hào (tháng 12 đến tháng 2 năm sau), bí xanh (tháng 12 đến tháng 6 năm sau), cải xanh (tháng 7 – 8).
  4. Đậu cô ve (tháng 10 đến tháng 2 năm sau), cà chua (tháng 2 – 5), cải xanh (tháng 7 – 8), củ cải (tháng 9 – 10).
  5. Rau muống (tháng 2 – 11), muống giống (tháng 12 đến tháng 2 năm sau).
  6. Rau muống (tháng 2 – 10), cải xoong (tháng 10 đến tháng 2 năm sau).
  7. Xà lách (tháng 9 – 10), rau mùi (tháng 10 – 11), cà rốt (tháng 12 đến tháng 2 năm sau), hành hoa (tháng 2 – 5), cải xanh (tháng 4 – 5), hành hoa (tháng 6 – 8).
  8. Lúa xuân (tháng 2 – 5), củ đậu (tháng 6 – 11), khoai tây (tháng 11 đến tháng 2 năm sau).
  9. Lúa xuân (tháng 2 – 5), lúa sớm (tháng 6 – 10), đậu côve (tháng 10 đến tháng 1 năm sau).
  10. Dưa chuột (tháng 2 – 5), lúa mùa sớm (tháng 6 – 10), dưa chuột (tháng 10 – 12).

Trồng rau xen canh là gì?

Trồng xen canh là cách gieo trồng 2 – 3 loại rau trên cùng một mảnh đất. Cây trồng xen không được ảnh hưởng và làm giảm thu hoạch đến cây trồng chính và cây trồng sau; tổng số thu phải cao hơn và thu nhập của người trồng phải cao hơn trồng thuần, th” hoạch phải trải ra trong thời gian dài.

Người ta hay trồng xen các loại rau sau đây:

  1. Cải xanh, cải trắng, thường trồng xen giữa các hàng bắp cải, su lơ, su hào trồng hai bên hàng bắp cải.
  2. Bí xanh, bí đỏ, mướp leo trên giàn, có thể trồng xen rau cải, rau giền ở khắp luống hoặc xen giữa các luống. Khi thu hoạch các rau trồng xen thì vun đất vào gốc bí, mướp.
  3. Trồng xen hành hoa xà lách hai bên mép luống cải xanh, cải trắng.
  4. Đậu đũa, đậu cô ve, dưa chuột trồng xen với rau giền, rau cải vãi khắp luống hoặc trồng giữa các hàng.
  5. Xà lách trồng xen với hành hoa lần lượt từng hàng một.
  6. Cà chua, xen cải củ, cải xanh, cải trắng.

Nguyên tắc trồng xen là giống trồng xen phải ngắn ngày hơn giống trồng chính, cây cần ánh sáng nhiều xen với cây cần ánh sáng ít.

Trồng rau gối vụ là gì?

Trồng rau gối vụ là biện pháp đảm bảo thời vụ cho cây trồng sau trong lúc cây trồng trước đang chiếm đất, bằng cách cây trồng gối cây trồng sau vào cạnh cây trồng trước. Cây trồng trước và cây trồng sau đều là cây chính.
Có một số công thức gối vụ thường dùng như sau:

  1. Bắp cải (tháng 3 đến tháng 1 năm sau), xen cải hay giền, gối đậu cô ve leo (tháng 2 – 5) có xen cải hay rau dền, mướp muộn.
  2. Lúa mùa sớm (tháng 6 – 9), gối bắp cải (tháng 10 đến tháng 1 năm sau) có xen cải trắng + gối bầu sớm (tháng 11 đến tháng 6 năm sau).

Thu hoạch rau hợp lý

Thu hoạch rau hợp lý là thu hoạch rau ngon – rau được thu hoạch đúng lửa, đúng kỳ, không thu lúc còn quá non hoặc quá già nhất là đối với rau ăn quả, ăn củ như đậu đỗ, dưa, bầu, mướp.

Thu hoạch rau non năng suất giảm 20 – 30%, thu hoạch quá già thì phẩm chất rau kém.

Trước khi thu phải kiểm tra đồng ruộng để đánh giá chính xác ngày thu, ước tính sản lượng đợt thu đầu. Kiểm tra nơi cất giữ, cách thu hái, phương tiện vận chuyển; tính toán lượng phân bón thúc sau khi thu hái đợt đầu.

Khi đã hái về không nên để trong kho quá lâu, đặc biệt là không xếp đống, nhúng nước làm rau rất mau thối, phẩm chất giảm.

Dung cụ trồng rau

Trồng rau trong gia đình hoặc trong sản xuất hàng hóa cũng cần các dụng cụ trồn rau sau đây:

  1. Dụng cụ làm đất, gồm có cuốc, cào 4 – 6 răng để cào đất, cào nhiều răng để san phẳng mặt luống, về đập đất, v.v…
  2. Dụng cụ trồng cây có giằm (còn gọi xén), cuốc trồng cây (cuốc con), dùng để chọc hốc.
  3. Dụng cụ chăm sóc cây gồm bình ozoa, cuốc sừng dê, bình bơm thuốc trừ sâu, thùng, chậu men, ống đong, phễu… Màng phủ nông nghiệp, bầu.
  4. Dụng cụ vận chuyển, xe cải tiến, xu thổ… để chuyển rau.
một số dụng cụ trồng rau
Một số dụng cụ trồng rau

Nguyên tắc sản xuất rau sạch

Vùng sản xuất rau sạch phụ thuộc nhiều vào đất, cách canh tác của từng địa phương. Ở Việt Nam điều kiện sinh thái rất đa dạng và trình độ thâm canh của người trồng rau cũng khác nhau. Nên không thể đưa ra một mô hình cụ thể cho tất cả các vùng và do sự ô nhiễm môi trường ở từng vùng cũng rất khác nhau. Song trước yêu cầu của người tiêu dùng và người trồng, Viện nghiên cứu rau quả đã xây dựng và công bố một số quy trình chung dựa theo kết quả nghiên cứu của viện và các chuyên gia trong nước. Quy trình này đã được bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép áp dụng từ 15/7/1996. Sau đây là quy định cụ thể.

1. Đất trồng

Để có năng suất cao, chất lượng rau tốt, phải trồng rau ở đất cao, độ thoát nước phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây. Tốt nhất là trồng trên đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất thịt có tầng canh tác 0,2 – 0,3m. Nơi trồng cách xa khu công nghiệp, các bệnh viện ít nhất là 2km, cách xa chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m. Đất có thể có chứa lượng nhỏ kim loại nặng nhưng không có tồn dư chất độc hại.

2. Nước tưới

Trong rau xanh lượng nước rất lớn, số nước này lấy chủ yếu từ nước tưới. Nên chất lượng nước tưới có vai trò quyết định đến sản phẩm của rau.

Nước tưới rau tốt nhất là nước giếng khoan, nhất là nước tưới với các loại rau ăn sống và rau gia vị như xà lách, rau thơm. Nếu dùng nước ao, sông, hồ thì phải dùng nước không bị ô nhiễm. Nước dùng pha thuốc bảo vệ thực vật, thuốc pha các loại phân bón lá cũng cần nước sạch. Các loại rau ăn quả, ở giai đoạn phát triển có thể bơm nước từ mương, sông, hồ để tưới vào rãnh.

3. Giống rau

Giống rau là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. Chỉ được gieo những hạt giống tốt, cây con khỏe mạnh, không mang mầm bệnh.

Giống đem trồng phải biết nguồn gốc, giống nhập phải qua kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo cần xử lý hóa chất hoặc nhiệt độ theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông, khi mang cây ra vườn trồng phải ngâm vào Sherpa 0,1% để phòng trừ sâu hại.

4. Bón phân

Phân bón lót cho rau thường là phân hữu cơ đã ủ hoai và phân lân hữu cơ vi sinh. Tùy theo loại rau mà có chế độ bón và lượng bón, lần bón khác nhau. Nhưng trung bình một hecta bón khoảng 15 tấn phân hữu cơ, 300kg lân hữu cơ vi sinh,

Phân hóa học muốn bón lót phải nắm được nhu cầu sinh lý của cây để bón thêm 30% phân đạm và 50% phân kali.

Tuyệt đối không dùng phân chuồng chưa ủ hoai bón lót để trừ vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho cây, tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng với các nhóm vi sinh vật có trong phân đang cần nitơ để phân giải phân chuồng.

5. Bảo vệ thực vật

Bảo vệ thực vật là giữ cho năng suất và chất lượng cây trồng bằng cách loại trừ các tác động và tác nhân gây hại cho cây.

Để tiêu diệt sâu hại một cách an toàn cho sức khỏe con người và bảo vệ môi trường, người trồng rau nên dùng các loại thuốc trừ sâu hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật. Tuyệt đối không dùng thuốc hóa học bảo vệ thực vật nhóm I và nhóm II cho các loại rau. Khi thật cần thiết mới dùng nhóm thuốc III, IV.

Nên chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch. Kết thúc phun thuốc trước khi thu hoạch ít nhất 5 – 10 ngày. Dùng các chế phẩm bảo vệ thực vật sinh học như BT, hạt củ đậu; các chế phẩm có nguồn gốc thực vật; dùng ký sinh thiên địch để phòng bệnh. (Xem bảng Cách pha chế một số thuốc trừ sâu hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật).

Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp tổng hợp (IPM); luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt, giống chống chịu bệnh; chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý; bắt sâu bằng tay; dùng bẫy sinh học diệt trừ bướm; sử dụng chế phẩm sinh học; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để theo dõi, phát hiện, tập trung phòng trừ sớm.

cách pha chế thuốc trừ sâu hữu cơ
Cách pha chế thuốc trừ sâu hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật

Ghi chú:

Các loại thuốc đều có thể pha thêm xà phòng nồng độ 0.1 – 0.2% để tăng hiệu lực thuốc.

Nồng độ % tính theo tỷ lệ trọng lượng hạt (cây) – so với trọng lượng nước.

Xem thêm: Kỳ 6: Những điều cần lưu ý khi sử dụng các phương pháp bảo vệ thực vật

6. Thu hoạch bao gói

Thu hoạch bao gói là rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ lá già, héo; quả bị sâu, dị dạng. Rửa bằng nước sạch, để ráo nước rồi cho vào bao túi sạch trước khi mang đi bán. Trên bao gói cần có ghi, hay in các thông tin cần thiết, địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng.


Tham khảo: Hướng dẫn trồng rau sạch – Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Duy Điềm

Xem thêm
Bài viết liên quan