Những điều cần biết trong kỹ thuật trồng rau sạch- Kỳ 2: Bón phân cho rau

Author:
Category:
- Advertisement -

Bón phân cho rau rất quan trọng vì rau là cây trồng có nhu cầu dinh dưỡng rất lớn, đất dù có tốt đến đâu cũng không đủ chất cung cấp cho rau, nên người trồng phải bón thêm phân. Tuy nhiên cần lưu ý: bón phân cho rau phải cân đối giữa các loại.

Bón phân cho rau đúng cách

Bón lót:

Bón lót là bón trước khi trồng cây, thường dùng phân chuồng kết hợp với các loại phân vô cơ chậm tan như lẫn, kali, vôi và một phần nhỏ đạm (bằng 1/5 – 1/3 số phân bón cho cả vụ rau).

Bón lót có thể bón vào các hốc đào sẵn hoặc rải đều trên mặt luống rồi trộn đều vào lòng luống hoặc rạch thành hàng trên luống rồi bón phân vào đó lấp đất lại.

Bón thúc:

Bón thúc là bổ sung phân vào lúc cây đang huy động nhiều chất dinh dưỡng để tạo sản phẩm hoặc khi cây chuyển giai đoạn phát triển. Để bón thúc người ta thường dùng các loại phân dễ hòa tan, dễ tiêu như phân chuồng nước, nước giải pha loãng để tưới vào gốc hoặc bón thêm phân đạm, phân kali vào đất rồi tưới nước.

Ngoài cách bón vào đất, người ta còn bón phân vi lượng trực tiếp lên lá cây, hoa và quả. Ưu điểm của loại phân này là chỉ dùng với lượng nhỏ, chi phí ít nhưng hiệu quả lại cao. Nếu phun đúng lúc, đúng lượng có thể tăng năng suất 5 – 10% hoặc hơn nữa, chất lượng, sản phẩm đẹp hơn làm tăng giá thành hàng hóa.

Bón phân cho rau
Bón phân cho rau

Các loại phân bón cho rau

A. Phân hữu cơ:

Phân hữu cơ là loại phân chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng, đạm, lân, kali, canxi, magie, natri, silic… và các nguyên tố vi lượng tuy hàm lượng không cao, có nguồn gốc từ các chất hữu cơ như rác, phân gia súc, gia cầm, phân người… Phân hữu cơ còn cung cấp chất mùn làm cho kết cấu đất tốt hơn, tơi xốp hơn, giúp bộ rễ cây phát triển mạnh, hạn chế bốc hơi nước, chống hạn, chống xói mòn.

Song hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân hữu cơ thấp, phải bón một lượng lớn, khó vận chuyển đi xa, nếu không chế biến kỹ sẽ mang một số mầm bệnh cho cây. Ngoài ra. do quá trình lên men, phân hữu cơ thải ra các axit hữu cơ làm đất bị chua nên phải bón kết hợp với vôi.

Phân hữu cơ là loại phân dễ sản xuất, ở nông thôn Việt Nam nhà nào cũng có thể tự sản xuất được từ phân trâu bò, lợn gà, phân rác, phân xanh.

Các loại phân hữu cơ
Các loại phân hữu cơ

Phân chuồng

Phân ủ từ phân gia súc (trâu, bò, ngựa…), gia cầm (gà, vịt…) cùng các chất độn như tro, trấu, rơm rạ.

Phân được xếp thành lớp, nén chặt đến khi đống cao 1,5 – 2m thì trát kín bùn, trên đỉnh chọc một lỗ hình phễu để tưới nước. Ủ từ 3 đến 6 tháng. Thông thường người ta ủ với đất bột, phân lân với tỷ lệ 2%, có thể thêm 3 – 5% vôi để phân mau hoai, bớt chua và các vi sinh vật hoạt động tốt hơn.

Phân rác

Phân được làm từ thân ngô, rơm rạ, cây đậu đỗ, vỏ lạc, trấu, bã mía, rác sinh hoạt của gia đình… chặt thành đoạn ngắn 20 – 30cm. Có thể ngâm rác bằng nước vôi loãng trước khi ủ 2 – 3 ngày. Xếp thành đống cứ 30cm phân lại rắc một lớp vôi bột cho đến khi hết lớp rác rồi trát bùn, ủ khoảng 20 ngày đảo lên rắc thêm phân bắc, phân chuồng hay phân đạm, phân lân với tỷ lệ 20%. Xếp cao 1,5 – 2,0m, trát bùn, trên đỉnh chừa lỗ để tưới nước giải pha loãng. Ủ 45 – 60 ngày có thể dùng bón lót. Muốn dùng bón thúc thì ủ thêm cho hoai mục.

Phân xanh

Phân được làm từ lá cây, bèo dâu, cốt khí, điền thanh, cây muồng ủ với đất bột, than bùn, phân chuồng, trát kín bùn ủ khoảng 30 ngày là dùng được.

Than bùn

Loại phân hữu cơ do một số cây bị phù sa lấp kín lâu ngày, phân giải yếm khí tạo thành lớp màu đen. Than bùn đào lên, phơi khô, nghiền nhỏ, trộn với một ít phân đạm, phân lân, phân kali bón cho rau.

Phân vi sinh vật

Phân được tạo ra bằng cách dùng các vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân trộn với than bùn, bột hữu cơ để bón vào đất hoặc trộn với hạt giống để gieo. Phân có tác dụng làm tăng quá trình cố định hoặc phân giải lân trong đất cung cấp cho cây trồng.

Phân sinh học

Phân do trộn bột hữu cơ (than bùn) với N. P. K, một số men và một số hoạt chất để làm tăng độ hữu hiệu của phân hoặc khi bón vào đất sẽ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình sinh học, làm tăng quá trình hóa – lý trong đất… góp phần làm tăng năng suất cây trồng.

Phân vi sinh có thể tinh chế thành dung dịch chứa men, các nguyên tố vi lượng… phun lên lá kích thích sự phát triển của cây trồng, điều hòa dinh dưỡng và bổ sung chất dinh dưỡng trong các giai đoạn phát triển quan trọng của cây.

B. Phân hóa học

Phân hóa học còn gọi là phân khoáng, phân vô cơ, có chứa các nguyên tố dinh dưỡng cho cây như đạm (N), lân (P), kali (K). Phân có thể chứa một, hai, ba chất dinh dưỡng N. P. K. Phân chứa một chất dinh dưỡng là phân đơn và gọi theo tên nguyên tố đó.

Phân đạm.

Phân chỉ chứa một nguyên tố nitơ. Trong thị trường thường có 3 nhóm: nhóm chứa nitrat (Amoni nitrat) NH4NO3; Natri nitrat NaNO3, Calci nitrat Ca(NO3)2; nhóm chứa gốc amon: Amoni sulfat (NH4)2SO4 có 21% N và chứa 23% S, Amoni chloride NH4Cl chứa 24 – 25% N…; nhóm chứa gốc amin: urê (NH₂)₂CO chứa 45 – 46% N.

Hiện nay ở ta đang dùng phổ biến là Amoni sulfat , DAP được dùng phổ biến ở phía Nam.

Phân đạm không độc, vừa dùng bón cho vườn rau gia đình vừa có thể làm thức ăn bổ sung cho trâu bò, dùng làm bột nở làm các loại bánh. Khi trời rét đậm không nên bón đạm cho cây vì cây không hấp thụ được, có khi còn làm ngộ độc và chết cây. Không nên tưới đạm vào lúc trời nắng, trời mưa vì đạm dễ phân hủy; tránh bón lúc sương còn đọng trên lá làm cháy lá. Đặc biệt, phân đạm không có hiện tượng tồn dư, nên vụ rau nào cũng phải bón. Sau khi bón đạm phải lấp một lớp đất vùi sâu.

Phân lân:

Phân lân là loại phân rất cần thiết cho cây. Có 2 nhóm:

Lân khó tiêu – không tan được trong nước và axit yếu, bón vào đất không sử dụng ngay được mà phải qua quá trình biến đổi trong đất, thường gặp là phân lèn, photphoric…

Lân dễ tiêu – loại phân lân cây trồng có thể hấp thụ ngay sau khi bón. Thường dùng super lân kép, super lân đơn, lân nung chảy dễ tiêu, chứa nhiều nguyên tố vi lượng như sắt, mangan, đồng.

Phân lân thường dùng bón lót. Các cây họ Đậu rất thích hợp với bón lân, cây phát triển tốt hơn và cung cấp nhiều đạm cho cây trồng vụ sau. Vì trong rễ cây họ Đậu có nhiều nốt sần chứa vi sinh vật có khả năng lấy đạm trong không khí.

Phân kali

Loại phân có nhiều trong đất, đủ cung cấp cho cây phát triển bình thường. Các loại đất sét, đất thịt nặng và đất thịt trung bình rất giàu kali. Đất bạc màu, đất xám, đất thịt nhẹ ít kali không đủ cung cấp cho rau, nên khi trồng rau trên các loại đất này phải bón kali bổ sung.

Các loại phân vô cơ cần được bảo quản kỹ theo các nguyên tắc sau: không để lẫn lộn; khi lấy ra khỏi bao bì phải ghi rõ tên; để nơi cao ráo nên để trong chum vại sành, đậy mùn rơm, nếu để trong bao nylon phải kín, bao không thủng, không đặt trực tiếp lên sàn mà phải đặt trên giá gỗ, dụng cụ đựng phải rửa sạch để nơi khô ráo, sau đó phơi khô để chống axit nhất là đựng phân đạm và super lân vì các loại phân này có tính axit dễ làm dụng cụ bị mục.

Một số loại phân vô cơ khi gặp nóng gây nổ như Amoni nitrat, tuyệt đối không để gần lửa. Phân đạm gặp nóng dễ bốc hơi nên không phơi nắng to mà chỉ để nơi gió mát nếu phân bị ướt. (Xem bảng Thành phần và tỷ lệ các chất dinh dưỡng (nguyên chất) trong một số loại phân bón thông dụng).

Thành phần và tỷ lệ các chất dinh dưỡng (nguyên chất) trong một số loại phân bón thông dụng
Thành phần và tỷ lệ các chất dinh dưỡng (nguyên chất) trong một số loại phân bón thông dụng

Tham khảo: Hướng dẫn trồng rau sạch – Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Duy Điềm

Xem thêm
Bài viết liên quan